Sở Tư pháp Gia Lai

Kế hoạch công tác tư pháp trọng tâm năm 2011 PDF. In Email
Thứ tư, 02 Tháng 3 2011 06:07

I. CÔNG TÁC TƯ PHÁP TRỌNG TÂM NĂM 2011

1. Công tác xây dựng, thẩm định, kiểm tra, tự kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL); theo dõi thi hành pháp luật

Tham mưu HĐND, UBND tỉnh thể chế hoá bằng văn bản để thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Nghị quyết đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV.

Tham mưu kịp thời cho UBND tỉnh ban hành chương trình xây dựng VBQPPL của tỉnh năm 2011 bám sát yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và Chương trình của Bộ Tư pháp; xây dựng Chương trình lập quy hàng năm, kế hoạch 05 năm; bổ sung, theo dõi Chương trình lập quy năm 2011; soạn thảo và phối hợp soạn thảo một số VBQPPL và văn bản cá biệt của UBND tỉnh liên quan đến nhiệm vụ của Ngành Tư pháp, nhất là văn bản pháp luật phục vụ công tác chỉ đạo điều hành, quản lý phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội; Phối hợp với Văn phòng UBND tỉnh tập huấn công tác văn bản.

Nâng cao chất lượng thẩm định, kiểm tra, rà soát hệ thống hóa văn bản QPPL; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về thi hành pháp luật, nhất là các văn bản liên quan đến lĩnh vực kinh tế.

Góp ý các dự thảo VBQPPL của Trung ương và địa phương ban hành khi có yêu cầu.

Triển khai có hiệu quả Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý VBQPPL; xây dựng Kế hoạch và phối hợp kiểm tra công tác xây dựng, ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND cấp huyện; xây dựng cơ sở dữ liệu phục vụ công tác kiểm tra, rà soát văn bản QPPL; tăng cường chỉ đạo, đôn đốc và theo dõi xử lý các văn bản có dấu hiệu vi phạm pháp luật ở cơ sở; kiện toàn và phát triển đội ngũ Cộng tác viên kiểm tra văn bản.

Tự kiểm tra và tham mưu xử lý các văn bản do UBND tỉnh ban hành chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

Tập trung rà soát, hệ thống hóa theo Đề án của Bộ Tư pháp, nhất là các văn bản liên quan đến WTO; rà soát, hệ thống hóa văn bản QPPL của HĐND, UBND tỉnh ban hành và hướng dẫn thực hiện.

Triển khai và áp dụng có hiệu quả Thông tư 03/2010/TT-BTP về theo dõi thi hành pháp luật; nâng cao quản lý Nhà nước về thi hành pháp luật, đảm bảo các VBQPPL thực sự đi vào cuộc sống, phát huy tính hiệu quả, hiệu lực của các VBQPPL, trước hết là việc thực hiện các văn bản của HĐND và UBND tỉnh, tập trung vào một số lĩnh vực như đất đai, môi trường, đầu tư xây dựng…

Triển khai thực hiện có hiệu quả Nghị định thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP về xây dựng củng cố tổ chức pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và Doanh nghiệp nhà nước; Thông tư 03/2010/TT-BTP hướng dẫn công tác theo dõi tình hình thi hành VBQPPL; phối hợp và triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hỗ trợ pháp lý cho Doanh nghiệp theo Nghị định số 66/2008/NĐ-CP.

Tổng kết 5 năm thực hiện Luật ban hành văn bản QPPL của HĐND và UBND, sơ kết 5 năm thực hiện Chiến lược xây dựng pháp luật và bổ sung nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật giai đoạn 2011-2020.

2. Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL)

Tổ chức học tập, quán triệt các luật và các văn bản thể chế hoá các văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI, Văn kiện đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIV.

Kiện toàn Hội đồng PBGDPL, xác định PBGDPL là của cả hệ thống chính trị, cần phải có sự phối hợp giữa các cơ quan nhằm nâng cao hiệu quả PBGDPL. Xác định mục tiêu chính của PBGDPL là đưa pháp luật đến với từng đối tượng.

Củng cố, tăng cường các điều kiện đảm bảo cho công tác PBGDPL đi vào chiều sâu; thực hiện đổi mới mạnh mẽ cách thức, phương thức PBPL; tiếp tục quán triệt và triển khai thực hiện nghiêm, có hiệu quả Thông báo số 74-TB/TW ngày 11/5/2007 của Ban Bí thư về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị 32-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác PBGDPL, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ và nhân dân.

Tham mưu cấp ủy Đảng có Nghị quyết chuyên đề về vai trò lãnh đạo đối với công tác tư pháp trong đó có công tác PBGDPL; phối hợp các Trung tâm bồi dưỡng chính trị cấp huyện tổ chức các lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao trình độ lý luận cho đội ngũ báo cáo viên cấp huyện và tuyên truyền viên pháp luật cấp xã.

Tham mưu giúp UBND tỉnh đôn đốc các cơ quan chủ trì và các cơ quan phối hợp thực hiện các Đề án trong Chương trình PBGDPL từ năm 2008-2012 theo Quyết định số 37/2008/QĐ-TTg; theo dõi quản lý về tổ chức hoạt động của tổ hoà giải ở cơ sở; hướng mạnh PBGDPL theo khu vực và đối tượng; tập trung chủ yếu vào các văn bản mới ban hành.

Tích cực, chủ động trong công tác tuyên truyền, PBPL phục vụ công tác bầu cử Quốc hội, HĐND các cấp; nhân rộng mô hình và kiểm tra việc thực hiện “Ngày pháp luật” ở các địa phương, đảm bảo năm 2011, có 100% các huyện, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thực hiện “Ngày pháp luật”.

Duy trì và nâng cao chất lượng, hiệu quả việc PBPL; Biên soạn và phát hành các tài liệu tuyên truyền phù hợp với từng đối tượng, biên dịch thu băng, phát hành đĩa bằng tiếng Jrai, Bahnar những nội dung văn bản pháp luật, chính sách Nhà nước liên quan trực tiếp đến đời sống của người dân tộc thiểu số.

Hướng dẫn các Phòng Tư pháp, các tổ chức đoàn thể tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng, kết quả hoạt động của các loại hình Câu lạc bộ pháp luật trong thời gian qua; tiếp tục kiện toàn và hoàn thành việc cấp thẻ cho đội ngũ Báo cáo viên pháp luật cấp huyện, Tuyên truyền viên pháp luật cấp xã; mở lớp tập huấn cho các đối tượng là Báo cáo viên, Tuyên truyền viên pháp luật, cán bộ Tư pháp - Hộ tịch cấp xã.

Phối hợp với các cơ quan có liên quan triển khai có hiệu quả Quyết định số 270/2009/QĐ-TTg ngày 27/02/2009 của Thủ tướng Chính phủ và Quyết định 288/2009/QĐ-UBND ngày 08/6/2009 về việc Phê duyệt Chương trình PBGDPL từ năm 2008 đến năm 2012; với ngành Giáo dục khảo sát việc PBGDPL thông qua các hoạt động ngoại khóa gắn với mô hình Câu lạc bộ pháp luật trong nhà trường; hướng dẫn các trường THPT thực hiện Thông tư liên tịch số 30/2010/TTLT-BGDĐT-BTP hướng dẫn việc phối hợp thực hiện công tác PBGDPL trong trường học; với Hội Nông dân tỉnh và các cơ quan, đơn vị thực hiện các công việc cần thiết để tiếp tục nhân rộng mô hình Câu lạc bộ “Nông dân với pháp luật” một cách hiệu quả.

Nghiên cứu, rà soát đánh giá về tổ chức và hoạt động hòa giải ở cơ sở phục vụ xây dựng dự án Luật Hòa giải. Hướng dẫn các Phòng Tư pháp tổ chức tập huấn nghiệp vụ, kỹ năng hòa giải cho Hòa giải viên cấp cơ sở.

Tiến hành rà soát, đánh giá thực trạng việc xây dựng, quản lý, khai thác, sử dụng, bảo quản tủ sách pháp luật tại UBND cấp xã.

Tham mưu Hội đồng PBGDPL tỉnh chỉ đạo kiện toàn tổ chức, nâng cao vai trò chỉ đạo, phối hợp hoạt động của Hội đồng PBGDPL cấp huyện, cấp xã; xây dựng Kế hoạch kiểm tra và tự kiểm tra việc thực hiện các hoạt động PBGDPL, nhất là ở những địa bàn còn nhiều khó khăn, nhằm triển khai công tác PBGDPL đạt hiệu quả, sát với thực tế, có trọng tâm, trọng điểm.

3. Công tác Hành chính tư pháp

Triển khai thực hiện có hiệu quả các văn bản hướng dẫn thi hành Luật, Nghị định về các lĩnh vực lý lịch tư pháp, trách nhiệm bồi thường của nhà nước, đăng ký giao dịch bảo đảm, nuôi con nuôi.

Đề nghị UBND tỉnh quyết định thành lập Trung tâm lý lịch tư pháp. Cải tiến quy trình, nâng cao chất lượng giải quyết các việc hộ tịch, quốc tịch, lý lịch tư pháp và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài đảm bảo chặt chẽ, chính xác, đúng pháp luật.

Thực hiện Kế hoạch 3982/KH-UBND ngày 08/12/2010 của UBND tỉnh Gia Lai về việc giải quyết hồ sơ xin nhập, thôi, xin trở lại quốc tịch Việt Nam, nhất là đối với trường hợp người không quốc tịch đã cư trú ổn định tại Việt Nam theo quy định tại Điều 22 của Luật quốc tịch Việt Nam.

Tăng cường triển khai thực hiện Chỉ thị số 31/2008/CT-TTg ngày 20/10/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc giải quyết tình trạng di cư tự do, vượt biên trái phép, nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng chưa đăng ký kết hôn ở khu vực biên giới.

Hướng dẫn, bồi dưỡng nghiệp vụ cho các Phòng Tư pháp và UBND cấp xã về công tác hộ tịch, chứng thực.

4. Công tác Bổ trợ tư pháp

Tham mưu UBND tỉnh tiếp tục triển khai thực hiện Chỉ thị số 33-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của Luật sư; phối hợp với Học viện Tư pháp mở 01 lớp đào tạo nghề Luật sư trên địa bàn tỉnh Gia Lai.

Đề nghị UBND tỉnh quyết định thành lập Tổ chức giám định pháp y tâm thần theo Đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động Giám định tư pháp”.

Triển khai thực hiện tốt Nghị định số 17/2010/NĐ-CP của Chính phủ về bán đấu giá tài sản, nhất là tài sản công, quyền sử dụng đất; Đề án kiện toàn, nâng cao năng lực hoạt động của Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh gắn với lộ trình chuyển đổi Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản tỉnh Gia Lai sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp và Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Trọng tài thương mại sau khi được Chính phủ ban hành.

Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực luật sư, công chứng và bán đấu giá tài sản.

5. Công tác Trợ giúp pháp lý (TGPL)

Xây dựng hoạt động TGPL theo hướng phát triển bền vững, trợ giúp pháp lý có chất lượng cho người được TGPL; xây dựng Kế hoạch triển khai thực hiện Quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt chiến lược phát triển TGPL ở Việt Nam giai đoạn 2010 - 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Tham mưu Chủ tịch Hội đồng phối hợp liên ngành về TGPL trong hoạt động tố tụng, chuẩn bị nội dung họp Hội đồng, nội dung sơ kết, tổng kết và dự thảo các báo cáo kết quả hoạt động của Hội đồng.

Nâng cao chất lượng, đáp ứng 100% nhu cầu tư vấn pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngoài tố tụng và thực hiện các hình thức TGPL khác cho người được trợ giúp; đánh giá chất lượng vụ việc TGPL theo quy định.

Tăng cường TGPL lưu động, kết hợp TGPL với khảo sát nhu cầu TGPL, hướng dẫn sinh hoạt Câu lạc bộ TGPL, tổ chức sinh hoạt chuyên đề pháp luật tại các xã nghèo, xã đặc biệt khó khăn theo Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo, các xã, thị trấn có nhu cầu TGPL lớn, những địa bàn trọng điểm về an ninh chính trị. Trong năm 2011, Trung tâm và các Chi nhánh của Trung tâm phấn đấu thực hiện trợ giúp pháp lý lưu động tại 121 xã, phường, thị trấn trong tỉnh.

Biên soạn, phát hành tài liệu, tờ gấp pháp luật tuyên truyền TGPL đến nhân dân.

6. Công tác kiện toàn tổ chức bộ máy cán bộ Ngành Tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch, vững mạnh

Xây dựng Kế hoạch tăng cường nhân sự cho công tác quản lý nhà nước đối với từng lĩnh vực cũng như các đơn vị trực thuộc; kiện toàn tổ chức, cán bộ các Phòng, Trung tâm thuộc Sở cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ; tích cực tuyển dụng công chức, viên chức đảm bảo tiêu chuẩn, chỉ tiêu biên chế được giao hàng năm, để đảm bảo phát triển ngành theo các Đề án được Tỉnh phê duyệt nhằm thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ.

Rà soát, đánh giá thực trạng về tổ chức bộ máy, cán bộ Tư pháp cấp huyện, xã để tham mưu Tỉnh ủy, UBND tỉnh tiếp tục củng cố, kiện toàn các cơ quan Tư pháp địa phương theo Thông tư liên tịch 01/2009/TTLT-BTP-BNV và Công văn số 74-CV/BCSĐ ngày 19/7/2010 của Ban cán sự Đảng Bộ Tư pháp. Phấn đấu đến hết năm 2011, 20% số UBND cấp xã có 02 cán bộ Tư pháp hộ tịch, 90% số cán bộ Tư pháp hộ tịch cấp xã có trình độ trung cấp luật trở lên.

Xây dựng Kế hoạch quy hoạch và phát triển Ngành Tư pháp tỉnh Gia Lai giai đoạn 2010-2015, định hướng đến năm 2020 phù hợp với lộ trình cải cách hành chính của tỉnh, cải cách Tư pháp của Ngành, tổ chức từng bước có hiệu quả các chiến lược, quy hoạch.

Có biện pháp cụ thể nhằm nâng cao chất lượng cán bộ tư pháp phù hợp với từng chức danh tư pháp và thực hiện tham mưu cho UBND tỉnh có hiệu quả hơn.

7. Công tác thanh tra, kiểm tra, tiếp dân, giải quyết khiếu nại tố cáo; phòng, chống tham nhũng

Xây dựng Kế hoạch thanh tra năm 2011 tập trung vào một số lĩnh vực như: Công chứng, Luật sư, bán đấu giá tài sản, chứng thực, hộ tịch... ; tiếp tục thực hiện Kế hoạch thực hiện Chiến lược quốc gia về phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2009-2011 của Bộ Tư pháp.

Thanh tra chuyên ngành theo thẩm quyền quy định tại Nghị định số 60/2009/NĐ-CP ngày 23/7/2009 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực Tư pháp đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân thuộc một số lĩnh vực trong phạm vi quản lý Nhà nước của Sở Tư pháp.

Tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra hoạt động Tư pháp mà trọng tâm là tư pháp cơ sở, nơi trực tiếp tiếp xúc với người dân và Doanh nghiệp để tháo gỡ các vướng mắc về pháp lý và nâng cao kỷ luật công vụ.

Kiểm tra việc thi hành công vụ của công chức, viên chức Sở Tư pháp.

Bố trí cán bộ chuyên môn thường trực tiếp công dân, tiếp nhận, xử lý và giải quyết kịp thời, đúng pháp luật đơn khiếu nại, tố cáo của công dân. Tiếp tục chỉ đạo, kiểm tra, đôn đốc giải quyết dứt điểm các vụ việc khiếu nại thuộc thẩm quyền; thực hiện đúng quy trình thanh tra, giải quyết khiếu nại tố cáo và thanh tra chuyên ngành.

8. Công tác thi đua khen thưởng

Đẩy mạnh việc tổ chức quán triệt sâu rộng các quy định của Đảng và Nhà nước về công tác thi đua khen thưởng trong toàn thể cán bộ, công chức, viên chức cơ quan, đơn vị.

Đưa công tác thi đua khen thưởng đi vào nề nếp, đảm bảo thực chất, hiệu quả; triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng; tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

9. Cải cách hành chính, cải cách tư pháp và ứng dụng công nghệ thông tin

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 48 NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010 định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách Tư pháp đến năm 2020 và Kế hoạch số 06/ KH-TU ngày 14-6-2006 của Tỉnh uỷ Gia Lai về thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị, Nghị quyết Trung ương lần thứ 3, khóa X của Ban chấp hành TW Đảng về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng và lãng phí.

Thực hiện tốt Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát thủ tục hành chính; cải cách thủ tục hành chính ở giai đoạn tiếp theo của Đề án 30; xây dựng Kế hoạch cải cách hành chính giai đoạn 2011-2015. Triển khai áp dụng các quy trình ISO vào nền hành chính công của Sở.

Hoàn thành và đưa vào sử dụng có hiệu quả Trang thông tin điện tử Sở Tư pháp; triển khai thực hiện tốt Kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động của Ngành Tư pháp giai đoạn 2011-2015, như: ứng dụng phần mềm đăng ký và quản lý hộ tịch; xây dựng, quản lý cơ sở dữ liệu để tra cứu, xác minh, xử lý thông tin lý lịch tư pháp.

10. Hoạt động chỉ đạo, điều hành công tác tư pháp

Lãnh đạo Sở Tư pháp trên cơ sở quyết định phân công nhiệm vụ, tổ chức sinh hoạt định kỳ để kiểm điểm, rút kinh nghiệm, phối hợp tốt hơn trong công tác chỉ đạo, điều hành.

Hướng mạnh về cơ sở, quan tâm chỉ đạo giải quyết công tác tư pháp địa phương; tập trung phát hiện, tháo gỡ kịp thời những khó khăn, vướng mắc, bất cập, yếu kém trong hoạt động của Ngành.

Gắn công tác tư pháp với phát triển kinh tế xã hội, quốc phòng - an ninh, cải cách hành chính; chủ động tích cực, nâng cao tinh thần trách nhiệm trong giải quyết công việc của toàn Ngành.

Chủ động tham mưu Bộ Tư pháp, HĐND, UBND tỉnh trong công tác chuyên môn, nghiệp vụ.

Tiếp tục đổi mới toàn diện, nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động chỉ đạo, điều hành.

11. Công tác xây dựng cơ bản

Lập dự án đầu tư xây dựng Kho lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ công chứng, lý lịch tư pháp.

II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Giám đốc Sở Tư pháp quản lý, chỉ đạo, điều hành việc tổ chức thực hiện Kế hoạch.

2. Thủ trưởng các đơn vị thuộc Sở, Trưởng Phòng Tư pháp cấp huyện có trách nhiệm:

- Xây dựng Kế hoạch hoặc Chương trình hành động triển khai thực hiện Kế hoạch này, trình Giám đốc Sở, Chủ tịch UBND cấp huyện phê duyệt và tổ chức, chỉ đạo thực hiện. Đối với những nhiệm vụ chưa được quy định trong Kế hoạch này thì tổ chức thực hiện theo chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao;

- Tổ chức kiểm tra việc thực hiện Kế hoạch, báo cáo kết quả thực hiện với Giám đốc Sở Tư pháp, Chủ tịch UBND cấp huyện.

3. Phòng Tư pháp có trách nhiệm hướng dẫn Tư pháp cấp xã xây dựng Kế hoạch công tác năm 2011 cho phù hợp với nhiệm vụ của Ngành, chương trình phát triển kinh tế xã hội của địa phương và tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả.

4. Trong quá trình triển khai thực hiện Kế hoạch, nếu thấy cần sửa đổi, bổ sung các đơn vị gửi văn bản về Văn phòng Sở để tổng hợp, báo cáo Giám đốc Sở xem xét quyết định.

5. Chánh Văn phòng Sở chủ trì, phối hợp với Thanh tra Sở và Thủ trưởng các đơn vị có liên quan thuộc Sở theo dõi, đôn đốc việc triển khai thực hiện Kế hoạch, định kỳ báo cáo và kiến nghị với Giám đốc Sở về các biện pháp cần thiết bảo đảm Kế hoạch được thực hiện đồng bộ và hiệu quả./.

 

Số người trực tuyến

Hiện có 19 khách Trực tuyến